Browsed by
Month: June 2020

5 Hoàng đế của Đế chế Roma (4 – End) – Constantine

5 Hoàng đế của Đế chế Roma (4 – End) – Constantine

Gần 1 thế kỉ sau Trajan, thời kì Pax Romana dần đi đến hồi kết. Tham nhũng trong nội bộ, sự quấy phá của các bộ lạc lân bang, và sự cạnh tranh giữa các tướng lĩnh cho ngai vàng là những lý do chính khiến Đế chế trở nên suy yếu và nội chiến thường xuyên diễn ra.

Một Hoàng đế tên là Diocletian đã đánh bại các đối thủ chính trị của mình và trở thành Hoàng đế duy nhất nắm quyền. Tuy vậy, Đế chế quá rộng lớn, và vấn đề ngày một nhiều. Diocletian quyết định phân chia quyền lực cho một Hoàng đế nữa, mỗi người sẽ quản lý một nửa Đế chế, tạm gọi là Đế chế Đông và Đế chế Tây. Sau này, ông quyết định lập ra thêm một chức danh “phó Hoàng đế” cho mỗi bên, được gọi là Ceasar, cai trị một phần của Đế chế. nâng tổng số “Hoàng đế” lên bốn người. Hệ thống này được gọi là tetrarchy (cai quản bởi 4 người).

Bản đồ lãnh địa của 4 vị Hoàng đế trong thời kì Tetrarchy. Có thể thấy lãnh địa của đế chế trong suốt chiều dài lịch sử hiếm khi mở rộng được qua bờ bên kia sông Rhine (kiểm soát bởi các bộ lạc Germanic) và sông Danube (kiểm soát bởi Dacia).

Nói thêm về tên chức danh Ceasar. Sau khi Ceasar “thật” qua đời, Augustus cũng lấy tên Ceasar vì là con nuôi của ông. Nhưng sau này, cái tên Ceasar được dùng như một tước hiệu cho người được chọn để kế nhiệm Hoàng đế trong tương lai. Còn Augustus trở thành tước hiệu được thêm vào tên khi người đó làm Hoàng đế. Ví dụ ông ABC được phong Thái tử, thì tên ông sẽ là ABC Ceasar. Sau này ổng lên Hoàng đế thì sẽ được gọi là ABC Ceasar Augustus.

Quay trở lại với Constantine. Bố của ông là Ceasar của Đế chế Tây, tức cũng là quan chức top 4 của thời bấy giờ. Tuy là con quan lớn, và được sống trong điều kiện vật chất học hành đầy đủ, nhưng Constantine phải sống ở cung điện của Diocletian ở Đế chế Đông. Ông giống như một “con tin” để đảm bảo long trung thành của cha mình.

Phục vụ trong hàng ngũ của Đế chế Đông, Constantine dần dần phát triển tài năng quân sự. Có lẽ vì vậy, ông trở thành một đối thủ chính trị đáng gờm, và hay bị chơi xấu. Giai thoại đồn rằng ông từng bị các đối thủ đẩy cho những nhiệm vụ quân sự nguy hiểm, nhưng lần nào ông cũng trở về thắng lợi.

Sau khi Hoàng đế Diocletian thoái vị ngai vàng của Đế chế Đông, Constantine lập mưu trốn về xứ Gaul, nơi cha mình cũng mới được thăng cấp trở thành Augustus (Hoàng đế của Đế chế Tây). Ông cùng cha mình chinh chiến, và trong một chiến dịch ở Britannia (Britain), cha ông mất và ông chính thức tiếp quản danh hiệu Augustus, Hoàng đế Đế chế Tây.

Lên chức là một chuyện, nhưng Hoàng đế khác có phục hay không là chuyện khác. Hoàng đế miền Đông rất tức tối, và chỉ chấp nhận phong Constantine làm Ceasar thôi, còn danh xưng Augustus dành cho người giữ vị trí Ceasar trước đây. Constantine chấp nhận sự tấn phong này, lùi xuống một bậc là Ceasar của vùng Tây Bắc Đế chế, cai quản vùng Gaul, Britannia, và Hispana (Tây Ban Nha)

Ông bảo vệ biên giới và củng cố các vùng đất do mình quản lý. Đặc biệt, ông có chính sách khoan dung với người Thiên Chúa.

Trước đây, dưới thời Hoàng đế Diocletian, Constantine đã được chứng kiến sự ngược đãi của chính quyền với người Thiên Chúa, đỉnh điểm là vụ Đại Ngược Đãi (The Great Persecution) mà trong đó bốn vị đồng Hoàng đế đã tước quyền công dân của các tín đồ đạo này.

Đạo Thiên Chúa tại thời điểm này vẫn còn tương đối mới. Ra đời được khoảng gần 300 năm, Đạo Thiên Chúa nhanh chóng thu hút các tín đồ, cạnh tranh trực tiếp với tôn giáo của Đế chế, uy hiếp hệ thống quyền lực đương thời. Có lẽ vì vậy mà Đạo không được lòng những người cai trị thời bấy giờ. Thậm chí vụ hoả hoạn Roma dưới thời Nero cũng bị đổ cho một người Thiên Chúa, và chính quyền nhân đó tiếp tục áp bức các tín đồ.

Trở lại với Constantine, khi nắm quyền, ông đã bãi bỏ đạo luật ngược đãi trước đó ở vùng đất do mình cai quản, và trao trả tài sản cho những tín đồ Đạo Thiên Chúa. Có thể đây cũng là một phương pháp giúp ông ổn định tình hình chính trị, và thu phục lòng dân chăng?

Sau khi quyền lực được củng cố, ông tiến hành chiến tranh với vị Augustus ở Roma. Trước trận đánh ở Roma, giai thoại đồn rằng Constantine ngủ mơ thấy biểu tượng chữ thập. Khi tỉnh dậy, ông cho binh lính vẽ hình chữ thập của thánh giá lên khiên và mũ áo, rồi tiến về Roma. Kết quả cuối cùng, ông là người thắng cuộc, trở thành Hoàng đế Đế chế Tây.

Arch of Constantine, Khải hoàn môn Constantine cho chiến thắng Roma, đặt ngay cạnh Đấu trường Colosseum nổi tiếng.

Cũng nhân lý do bảo vệ tín đồ Thiên Chúa, ông tiếp tục chiến tranh với Hoàng đế Đông, và cuối cùng giành thắng lợi, trở thành Hoàng đế duy nhất của Đế chế khi 52 tuổi.

Hai miền của Đế chế Roma giờ đã nằm dưới quyền lãnh đạo của một Hoàng đế duy nhất. Nhưng khác biệt giữa hai miền tương đối lớn. Miền Đông chủ yếu dùng ngôn ngữ Hy Lạp, khá “anti” Thiên Chúa. Miền Tây thì dùng nhiều ngôn ngữ Latin, và có thái độ bao dung hơn với tín đồ Thiên Chúa. Vì vậy, Constantine quyết định dời đô về miền Đông. Ông đã chọn thành phố Byzantium làm kinh đô mới, và đổi tên thành Constantinopolis (thành phố của Constantine), hay được biết đến trong tiếng Anh là Constantinople. Đạo Thiên Chúa cũng được chính thức hợp pháp hoá dưới thời này, và Đế chế Roma, từ một chế độ đa thần, dần trở thành một Đế chế Thiên Chúa Giáo.

Constantinople là thủ đô của Đế chế Roma, và hậu duệ của nó là Đế chế Byzantin cho đến hơn 1000 năm sau. Cóntantinople ngày nay chính là một phần của Istanbul, thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, cầu nối của 2 lục địa Á Âu.

13 năm sau ngày thống nhất Đế chế, Constantine qua đời. Trước khi mất, ông làm lễ rửa tội, chính thức trở thành một tín đồ Thiên Chúa. Ông chính là Hoàng đế Thiên Chúa giáo đầu tiên của Đế chế Roma.

5 Hoàng đế của Đế chế Roma (3) – Nero và Trajan

5 Hoàng đế của Đế chế Roma (3) – Nero và Trajan

Nero và Trajan, hai vị Hoàng đế đối lập, một người được lịch sử cho là tệ nhất, còn người kia được cho là đỉnh cao (Optimus) của Đế chế.

Nero là cháu 5 đời của Augustus, sinh ra vào năm 37, tròn 100 năm sau ngày sinh của Augustus. Mẹ của Nero tái giá với Hoàng đế khi đó là Claudius, sau đó cho Nero (con riêng của bà) cưới luôn con gái của Hoàng đế Claudius để củng cố quyền lực. Sau đó bà đã đầu độc luôn Hoàng đế Claudius để đưa Nero, khi ấy 17 tuổi, lên ngôi nhằm dễ bề thao túng.

Tuy vậy, 5 năm sau, Nero lật kèo giành lại quyền, và được cho là đã giết luôn mẹ mình. Phốt tai tiếng nhất của Nero là vụ hoả hoạn thành Roma (The Great Fire of Rome). Trong 9 ngày, ngọn lửa đã thiêu trụi 2/3 Thủ đô của Đế chế, trong lúc Nero đang đi nghỉ mát. Có người cho rằng ông là chủ mưu của vụ cháy này.

Quả thực, sau đó, một cung điện nguy nga có tên Domus Aurea (The Golden House) đã được xây dựng ngay trên nền đất bị thiêu rụi trước đây. Những năm 2000, có một app burn (ghi) đĩa CD có tên là Nero Burn, có lẽ cũng từ điển tích này?

Cuộc đời của Nero chấm dứt khi ông tự sát vì sợ bị các đại thần của viện nguyên lão luận tội. Sau khi Nero mất, Roma rơi vào một thời kì loạn lạc được gọi là Năm Tứ Đế (Year of Four Emperors), khi mà có 4 người lần lượt trị vì trong một năm.

Đến năm 96 thì một triều đại mới lên nắm quyền, được sử gia gọi tên triều đại Nerva Antonine. Với vị Hoàng đế đầu tiên là Nerva, lên ngôi với sự ủng hộ của Viện nguyên lão (Senate) – Quốc hội ngày nay. Triều đại Nerva Antonine này cũng nổi tiếng là triều đại có Năm vị vua tốt (Five Good Emperors), những người được chọn để kế vị qua việc được Hoàng đế nhận làm nuôi.

Trajan cũng là con nuôi của Nerva, ông rất có danh tiếng trong quân đội, nên được Nerva chọn làm người nối ngôi. Là một nhà quân sự tài ba, Trajan dành phần lớn thời gian trị vì của mình để tiến hành chinh phạt các vùng đất xung quanh. Biên giới của Đế chế Roma trở nên rộng lớn nhất cũng trong giai đoạn này.

Một trong những chiến tích quan trọng của ông là với Vương quốc Dacia. Sau này ông đã cho xây Trajan’s Column (Cột chiến thắng của Trajan) để kỉ niệm thắng lợi này. Cột chiến thắng này ngày nay vẫn hiện diện ở giữa thủ đô Roma, nằm trong khuôn viên Trajan’s Forum (Quảng trường Trajan), nơi cũng được xây dựng sau chiến thắng Dacia.

Cột Trajan, nằm giữa Trajan’s Forum. Dấu tích vẻ vang ngày nào nay chỉ còn là những mảnh đá vụn vỡ, là một địa danh thu hút du khách ở thủ đô Roma.

Ông mất vào năm 63 tuổi, để lại ngôi báu cho người con nuôi Hadrian. Tro của ông được ch  ôn ở dưới Cột Trajan’s Column. Các vị Hoàng đế sau ông khi lên ngôi đều được Viện nguyên lão Roma chúc phúc bằng câu “Felicior Augusto, melior Traiano”, có nghĩa là “May hơn Augustus, giỏi hơn Trajan”.

Biên giới cực đại của Đế chế. Các tỉnh màu hồng có Thống đốc (Proconsul) được bầu bởi Viện nguyên lão, thường nằm sâu trong Đế chế và không có lính đồn trú. Các tỉnh màu xanh nằm ngoại biên, được cai quản trực tiếp bởi người do Hoàng đế chỉ định. Việc phân loại này để tập trung binh quyền (thường trú ở các tỉnh màu xanh) vào tay Hoàng đế.

Dacia là Rumani ngày nay. Rumani cũng là đất nước duy nhất có ngôn ngữ theo tiếng Latin mà nằm hoàn toàn tách biệt khỏi các nước tiếng Latin khác. Bản thân tên nước Rumani đến từ Romanus, tiếng Latin là “người Roma”.

Nguồn gốc tên gọi các tháng theo tiếng Latin

Nguồn gốc tên gọi các tháng theo tiếng Latin

Tên của Hoàng đế Augustus được dùng cho tháng tám, thế còn các tháng khác thì sao?

Theo lịch Roma thời xưa, một năm chỉ có mười tháng, và bắt đầu là tháng Martius, hay quen thuộc hơn là March. March, được đặt tên theo thần chiến tranh Mars, vì đây là tháng các binh sĩ thường lên đường ra trận sau khi nghỉ qua mùa đông lạnh giá.

Tháng thứ hai là tháng April, được đặt tên theo thần sắc đẹp Aphrodite. Tháng này là tháng mở màn cho mùa xuân, cây cối trăm hoa đua nở, vạn vật tràn đầy sức sống.

Tháng thứ ba là tháng May, được đặt theo tên thần đất Maya, có lẽ bởi đây là thời gian bắt đầu gieo trồng cho vụ mùa mới.

Tháng thứ tư là June, được đặt tên theo thần Juno, vợ thần Jupiter, đại diện cho hôn nhân sinh đẻ. Có lẽ tháng này thời tiết mát mẻ, phù hợp để cưới xin và để …chế tạo ra con cái?

Tháng tiếp theo đã từng được gọi là Quintilis, nghĩa là tháng thứ năm. Sau này được đổi thành Iulius, hay July, theo tên của Julius Ceasar, người được sinh ra trong tháng này.

Tháng thứ sáu, August, đương nhiên là thuộc về Augustus, nhưng tên trước đó là Sextilis, có nghĩa là thứ sáu.

Các tháng tiếp theo chỉ mang nghĩa số thứ tự. Septem – thứ bảy. Octo – thứ tám. Novem – thứ chín. Decem – thứ mười.

Bộ lịch này chỉ có mười tháng theo chu kì quay của mặt trăng, và bao gồm 355 ngày. Nhưng nó lại không hợp với chu kì quay của mặt trời (365.24 ngày) nên người Roma thêm một số ngày nhét vào cuối năm cho đủ vòng quay. Đôi khi còn phải thêm vào cả một tháng, kiểu như ngày nhuận, tháng nhuận vậy.

Julius Ceasar sau chuyến chu du ở Ai Cập với người đẹp Cleopatra đã thấy được lợi ích của lịch mặt trời ở đây, nên khi trở về Roma, ông quyết định thêm hai tháng nữa vào bộ lịch, chỉnh lại số ngày mỗi tháng, nâng tổng số ngày lên 365 ngày. Lịch này gọi là lịch Julian calendar, khá giống với phiên bản ngày nay mình dùng.

Hai tháng được cộng thêm là January, được đặt tên theo thần Janus, vị thần hai mặt chuyên gác cổng, đại diện cho ngưỡng cửa năm cũ và năm mới, phù hợp để đặt tên cho đầu tiên của năm. Tháng tiếp theo là February, được đặt theo lễ hội Februa.

Lịch Julian chạy khá ổn cho đến khoảng hơn 1 trăm năm thì bắt đầu bị lệch 1 ngày so với độ quay chuẩn của Trái đất. Đến thế kỉ 15, tức là hơn 1 ngàn rưởi năm sau, sai số đã lên đến 10 ngày. Sai lệch với người thường thì không sao, nhưng với những lãnh đạo tôn giáo thì điều này không thể chấp nhận được.Giáo hoàng Gregory khi đó đã quyết định đại tu bộ lịch một lần nữa, tính lại số năm nhuận (4 năm 1 lần, trừ những năm chia hết cho 100, nhưng lại gồm những năm chia hết cho 400).

Đồng thời ông đẩy lịch lên thêm 10 ngày, tức là sau ngày 4/10 năm đó lịch sẽ nhảy lên thành 15/10. Tất nhiên thay đổi này cũng bị dân chúng phản đối dữ dội vì nó khá phiền phức. Có lẽ nhiều người mất tiệc sinh nhật vì quyết định này chăng? :))

Dù sao thì mấy trăm năm sau bộ lịch Gregorian này được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó có nước ta, với cái tên đơn giản là lịch dương, với ý nghĩa là lịch mặt trời.

5 Hoàng Đế của Đế chế Roma (2) – Augustus

5 Hoàng Đế của Đế chế Roma (2) – Augustus

Augustus sinh ra trong một gia đình quý tộc, bố là tỉnh trưởng một tỉnh trong Cộng hoà Roma. Bà cậu là chị gái của Julius Ceasar. Có thể nói cậu là một cocc chính hiệu.

Hồi nhỏ cậu có tên là Octavius, nôm na ra tiếng Việt là “cậu Tám”. Octavius theo chân ông bác Julius Ceasar đi đánh trận, được tin yêu vô cùng. Julius Ceasar không có con trai chính thức, con gái ông, người đã được gả cưới vài lần với mục đích chính trị, mà một trong số đó là với Pompey, cũng chỉ đẻ được một đứa con mà lại chẳng may cháu lại mất sớm. Chính vì vậy, Ceasar bí mật nhận nuôi Octavius và trao cho cậu danh hiệu thái tử trong bản di chúc của mình.

Octavius không hề biết đến chuyện này, cho đến khi Ceasar bị ám sát và bản di chúc được công bố. Tuy là người thừa kế trên giấy tờ những quyền lực của Ceasar, nhưng lúc này Octavius mới có 18 tuổi, vẫn còn trẻ trâu so với các lão thành cách mạng tuổi ngoài 4 chục như Mark Anthony hay Lepidus, những người đã cùng Ceasar chinh chiến bao năm qua.

Chính vì vậy, tuy là Thái tử, nhưng Octavius phải chia sẻ quyền lực với hai người còn lại, trong một buổi phân chia gọi là Second Triumvirate (chế độ Tam hùng lần 2), một dạng Tam Quốc của chế độ Roma. Trong đó Mark Anthony chiếm nửa Đông của nước Cộng hoà, Octavius lấy nửa Tây, còn Lepidus nhận nửa phía nam phần thuộc châu Phi.

Bản đồ “Tam Quốc” của Cộng hoà Roma sau Tam hùng lần 2

Cũng giống như chế độ Tam hùng lần 1 giữa Ceasar và các đồng minh chính trị, chế độ Tam hùng lần 2 cũng tiềm ẩn những cuộc canh tranh ngày càng gay gắt giữa các bên. Mark Anthony cưới em gái Octavius trong một mối quan hệ chính trị, xong lại ruồng bỏ cô để chạy theo người tình là nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, người cũng có scandal tình ái với Ceasar trong phần trước.

Mark Anthony sau này có đến ba người con với Cleopatra, và ông còn cho họ đứng đầu các tỉnh của bờ đông nước Cộng hoà Roma, điều khiến Octavius phật lòng. Nhưng điểm khiến Octavius tức giận là khi Mark Anthony tuyên bố người con riêng của Cleopatra và Ceasar mới xứng đáng là người thừa kế thực sự của Ceasar, và dùng đó như quân bài để đe doạ tính chính thống của Octavius ở Roma, thì Octavius không thể để yên cho phe bờ Đông nữa.

Sau khi chinh phạt bờ Nam của Lepidus yếu đuối, và củng cố quyền lực của mình ở bờ Tây, Octavius dẫn quân đi chinh phạt cặp đôi Mark Anthony và Cleopatra, mà đỉnh cao là trận thuỷ chiến ở Actium, nơi ông đã đánh bại thuỷ quân của phe bờ Đông.

Battle of Actium, tác phẩm của Laurays a Castro

Mark Anthony và Cleopatra chạy về Ai Cập nhưng cũng không thoát khỏi sự bao vây của Octavius và phải tự sát ở đây. Octavius từ đây không còn đối thủ chính trị nào xứng tầm, một tay thao túng nước Cộng hoà Roma. Và đến năm 27 TCN, ông đưa ra một loạt thay đổi trong cách thức vận hành nhà nước, từ một thể chế Cộng hoà (Republic) trở thành một Đế chế (Empire), nơi quyền quyết định tập trung vào tay một người (autocratic).

Ông cũng đổi tên là Augustus, và tuy không tự phong mình là Hoàng đế chính thức nhưng người đời vẫn coi năm 27 TCN này như là năm khai sinh của Đế chế Roma và coi ông là Hoàng đế đầu tiên của Đế chế.

Augustus, với tiền bạc của cải thu được từ Ai Cập, đã có nhiều thay đổi trong bộ máy chính quyền, đưa Đế chế Roma, từ một thập kỉ nội chiến tới một thời kì hoà bình kéo dài 200 năm, có tên là Pax Romana (Hoà bình Roma). Tên ông cũng được đặt cho tên của tháng Tám (August).

5 Hoàng Đế của Đế chế Roma (1) – Julius Ceasar

5 Hoàng Đế của Đế chế Roma (1) – Julius Ceasar

Ngày xửa ngày xưa, khoảng 100 năm trước ngày Chúa Giesu chào đời, có một cậu bé nọ sinh ra trong một gia đình ở thành Roma. Tên cậu là Julius Ceasar. Nhà cậu là dòng dõi của sáng lập viên thành phố, tuy không phải là đại gia, nhưng cũng có của ăn của để.

Bố cậu mất khi cậu mới 16. Chàng trai Ceasar đi lính, và dần dần đạt được những thành tích đáng nể trong quân đội. Cậu cưới một cô gái con nhà gia thế, và dần dần bước chân vào chính trường. Cậu cũng kết thân với nhiều chính trị gia lão thành, một trong số đó là ngài Pompey, một nhân vật tiếng tăm của chế độ Cộng hoà này.

Năm 40 tuổi, Ceasar, lúc này đã là một lãnh đạo cao cấp được nhân dân yêu mến, và dưới sự ủng hộ của Pompey, được bầu làm Consul của Cộng hoà Roma. Consul là chức danh ngang hàng với Thủ tướng ngày nay, được bầu mỗi năm một lần, và mỗi lần 2 người. Tuy phải chia sẻ quyền lực với 1 vị Consul khác, Ceasar tỏ ra lấn át và thể hiện sự vượt trội trong việc lãnh đạo nước Cộng hoà.

Hết 1 năm nhiệm kì, như các vị Consul khác, ông được cử đi làm ProConsul (Thống đốc) của một tỉnh trong nước Cộng hoà. Và vùng đất ông lãnh đạo là vùng đất của người Gaul (Pháp), vốn là một vùng biên cương tại thời điểm này. Với trí thao lược, ông nhanh chóng mở các chiến dịch quân sự, đẩy người Gaul về phía bắc, thu nạp thêm đất đai cho nước Cộng hoà.

Thanh thế của ông ngày một mạnh, khiến các đồng minh cũ của ông, trong đó có Pompey, cũng phải e sợ. Sau nhiều thắng lợi quân sự quan trọng, Ceasar bày tỏ ý định muốn tiếp tục ứng cử làm Consul thêm một nhiệm kì nữa. Nhưng các lãnh đạo ở Roma rất lo lắng, và chỉ cho phép ông trở về Roma với điều kiện ông từ bỏ sự lãnh đạo quân đội của mình.

Tất nhiên Ceasar không nghe theo yêu cầu trên. Ông biết nếu trong tay mình không có sự ủng hộ của quân lính thì không cũng chẳng làm nên trò trống gì ở Roma. Và thế là ông dẫn quân lính của mình thẳng về thành Roma. Tất nhiên là lực lượng ở Roma không thể đọ được với đoàn quân thiện chiến của Ceasar, nên Pompey cho toàn bộ chính quyền rút lui về Hy Lạp.

Chiếm được Roma, Ceasar giao đất Rome cho một vị tướng thân cận của mình là Mark Anthony, còn bản thân ông kéo quân vượt biển sang Hy Lạp giao chiến. Sau nhiều trận chiến khốc liệt, Pompey thất thế và phải lên tàu bỏ chạy xuống Ai Cập.

Tại Ai Cập lúc này cũng đang diễn ra một cuộc tranh quyền đoạt vị hết sức khốc liệt giữa 2 phe. Một phe ủng hộ Pharaoh Ptolemy 13, phe kia ủng hộ chị gái của ông là Cleopatra, người được cha là Pharaoh Ptolemy 12 chỉ định là sẽ đồng cai quản Ai Cập với em trai mình.

Phe Ptolemy 13 muốn tranh thủ sự ủng hộ của Ceasar nên đã tìm giết Pompey. Xong ngờ đâu hành động này lại khiến Ceasar phật ý, vì ông muốn thể hiện một tấm lòng vị tha cho kẻ thù, nhằm đoàn kết nước Cộng hoà Roma sau nhiều năm nội chiến. Hay có lẽ vì ông đã rung động trước sắc đẹp của nàng Cleopatra, lúc này mới ngoài 20 tuổi?

Chẳng biết được lý do thực sự là gì, chỉ biết là vị tướng Ceasar lẫy lừng, lúc này đã hơn 50 tuổi, đã có một người con với Cleopatra. Còn Cleopatra xinh đẹp sau này cũng đánh đổ phe ủng hộ em trai mình, trở thành Nữ hoàng quyền lực của Ai Cập. Đất nước Ai Cập từ đây cũng trở thành một vùng đất lệ thuộc vào nước Cộng hoà Roma.

Trở về Roma, là người thắng cuộc, chẳng còn ai có thể đe doạ quyền lực của Ceasar nữa. Ông được bầu làm Dictator, tước vị tương đương với người nắm quyền tối cao trong các trường hợp khẩn cấp, thường chỉ có hạn trong 6 tháng. Tuy vậy, vì có quyền lực quá mạnh, ông được bầu làm Dictator với thời hạn trọn đời, nghe cũng giống một vị Hoàng đế vậy.

Nhưng việc làm Hoàng đế với quyền lực tối cao không có nghĩa là cuộc đời của ông kết thúc êm đẹp. 5 năm sau ngày được bầu làm Dictator, ông bị ám sát bởi các các đối thủ chính trị của mình, vì e sợ quyền lực quá mạnh của ông. Ông mất năm 44 trước công nguyên, thọ 55 tuổi.

Nước Cộng hoà từ đây rơi vào một cuộc nội chiến mới, nơi đặt nền móng khai sinh cho một trong những Đế chế hùng mạnh bậc nhất trong thế giới Cổ đại: Đế chế Roma.

Ảnh: bản đồ Cộng hoà Roma từ lúc khai sinh tới lúc mất của Ceasar